Loét áp tơ miệng (Aphthe) và cách điều trị

Loét miệng là một hiện tượng rất phổ biến. Khoảng  20% đến 40% dân số sẽ bị loét apthe ít nhất một lần trong đời. Nhiều người có thể bị tái phát rất nhiều đợt. Không cần điều trị đặc hiệu nào nếu bệnh không thường xuyên tái phát.

Loét áp tơ miệng (aphthe) là hiện tượng thường gặp nhất gây ra loét đau ở miệng. Tổn thương kinh điển là một vết loét nhỏ dưới 10mm, hình bầu dục hoặc tròn có bờ màu đỏ. Chúng thường xảy ra ở phần niêm mạc phía trong của miệng.  

Loét áp tơ miệng (Aphthe)

Bệnh xảy ra nhiều nhất ở tuối thanh thiếu niên. Bệnh ít gặp hơn ở những bệnh nhân lớn tuổi. Bệnh không lây lan.

Nguyên nhân gây loét áp tơ miệng (aphthe).

Cho đến thời điểm hiện tại, nguyên nhân gây khởi phát bệnh chưa được biết rõ. Người bị loét áp tơ miệng (aphthe) thường không có vấn đề đặc biệt nào về sức khỏe.

Hai nguyên nhân là môi trường và di truyền đã được nêu ra nhưng chưa được chứng minh. Nhiều yếu tố gây khởi phát đã được đề cập đến nhưng chưa chứng minh cho mọi trường hợp.

Chấn thương miệng.

Rối loạn nội tiết do chu kỳ kinh nguyệt.

Rối loạn lo âu hoặc stress

Bỏ hút thuốc.

 Di truyền

Sử dụng một số loại thuốc kháng sinh

Dị ứng hoặc nhạy cảm với thực phẩm.

Các loại kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate.

Thiếu sắt hoặc vitamin B12 (mặc dù việc cung cấp thêm sắt hoặc vitamins đã không chứng minh được là làm giảm loét).

Một số nghiên cứu gợi ý sự kết hợp của loét aphthe với vi khuẩn Helicobacter pylori. Đây là vi khuẩn thường gây ra viêm loét dạ dày tá tràng. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc điều trị tiệt trừ  Helicobacter pylori có thể làm chấm dứt các đợt tái phát loét aphthe.

Loét aphthe tái diễn có thể kết hợp với bệnh viêm đại tràng, cụ thể là bệnh Crohn và bệnh viêm loét đại tràng (ulcerative colitis). Trong các trường hợp này, sự xuất hiện của loét apthe là dấu hiệu cảnh báo cho một đợt viêm loét đại tràng mới.

Loét aphthe không liên quan đến nhiễm virus herpes.

Triệu chứng và dấu hiệu của loét áp tơ miệng (aphthe).

Loét áp tơ miệng (aphthe) có nhiều dạng. Chúng có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào trong miệng ngoại trừ mặt trên lưỡi, môi và vòm khẩu cứng.

Các vết thường gặp ở đa số trường hợp loét aphthe có hình tròn. Đường kính nhỏ hơn 10 mm với trung tâm màu trắng. Các vết loét này thường đau và biến mất sau 3 dến 14 ngày, không để lại sẹo. Loét aphthe nhẹ thường ít khi bị nhiễm trùng.

Các vết loét aphthe nặng thường sâu hơn và có đường kính khoảng từ 10 mm trở lên. Chúng thường rất đau, có bờ không đều và thường chỉ khỏi sau từ 3 đến 6 tuần. Loét có khuynh hường để lại sẹo lớn sau khi lành.

Một dạng loét aphthe thứ ba, thường được gọi là “dạng herpes” vì giống nhiễm herpes. Gồm nhiều vết loét nhỏ và nông, có đường kính 1 đến 3 mm. Từng cụm vết loét nhỏ này có thể kết hợp với nhau để hình thành vết loét lớn có bờ không đều. Bệnh thường kéo dài trong 7 đến 10 ngày.

Loét aphthe thường tái phát. Một số người bị vài đợt trong năm, số khác hầu như bị thường xuyên.

Nếu bị lần đầu, nên đi khám để xác định chẩn đoán loại trừ các bệnh nguy hiểm khác có triệu chứng giống loét aphthe.

Các dấu hiệu cần đi khám ngay:

Đau ngày càng nhiều và không kiểm soát được.

Bệnh nhân có tiêu chảy. Có thể người bệnh đã mắc một bệnh hệ thống như bệnh Crohn hoặc bệnh viêm loét đại tràng.

Có những ổ loét ở vị trí khác ngoài miệng. Có thể bệnh nhân đã mắc một bệnh hệ thống như hội chứng Behcet hoặc một bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Khi các vết loét hiện diện trên 3 tuần thì nên xem xét loại trừ ung thư miệng hoặc bệnh viêm đại tràng.

Chẩn đoán loét áp tơ miệng (aphthe).

Chẩn đoán dựa trên việc hỏi kỹ bệnh sử và quan sát hình dạng các vết loét. Trong đa số trường hợp không cần thiết phải xét nghiệm. Tuy nhiên, nếu chẩn đoán không chắc chắn, bệnh diễn tiến nặng hơn và xuất hiện thêm các triệu chứng khác thì có thể cần phải xét nghiệm máu và sinh thiết ổ loét.

Cần loại trừ khả năng loét do herpes hoặc nhiễm nấm, loét do chấn thương. Các vết loét lâu lành có thể là dấu hiệu của một bệnh ác tính.

Loét aphthe có thể gặp trên bệnh nhân nhiễm HIV, bệnh nhân viêm loét đại tràng hoặc một số bệnh lý khác.

Loét aphthe “dạng herpes” được phân biệt với loét do herpes thật sự ở chỗ  không xuất hiện các mụn nước nhỏ trước khi loét xảy ra.

Phòng tránh loét áp tơ miệng (aphthe)

Nên tránh tất cả những nguyên nhân có thể gây ra chấn thương. Dùng bàn chải đánh răng không đúng cách. Các loại thức ăn cứng. Không nói chuyện khi ăn nhai để hạn chế cắn vào môi, lưỡi gây chấn thương.

Giảm stress: Đối với nhiều bệnh nhân, stress có thể gây nhiều đợt tái phát loét aphthe. Các kỹ năng giúp giảm stress cũng sẽ giảm tần số xuất hiện các đợt tái phát.

Tránh dùng các loại kem đánh răng có chứa sodium lauryl sulfate nếu thường xuyên bị loét aphthe.

Các yếu tố nội tiết đôi khi có thể kích hoạt một đợt bùng phát loét aphthe ở giai đoạn trước khi có kinh. Dùng thuốc tránh thai uống có thể giúp ích.

Bổ sung vào khẩu phần nếu bệnh nhân thiếu sắt, folic acid, hoặc vitamin B12, tuy nhiên trong đa số thường hợp, điều này cũng không cải thiện tình trạng tái phát.

Điều trị loét áp tơ miệng (aphthe).

Việc điều trị vẫn có thể giúp giảm bớt triệu chứng, giảm khả năng tái phát, và kéo dài thời gian không bị bệnh. Có thể sử dụng một số thuốc sau đây:

Một số thuốc có bản chất là thuốc tê có thể được chỉ định dùng tại vết loét dưới dạng gel, thuốc bôi dạng dầu hoặc dung dịch. Có thể sử dụng một số thuốc điều trị loét áp tơ sau đây:

Nitrate bạc: bôi trực tiếp lên tổn thương

Thuốc làm bớt đau ngay sau khi bôi và lành thương tổn trong vòng 3-5 ngày

Kem bôi trong thành phần có triamcinolone acetonide, hoặc amlexanox (aphthasol)

Gel 2% lidocaine dùng bôi chỗ loét cũng cho tác dụng tốt

Debacterol là phức hợp phenol sulfonate với sulfuric acid có tác dụng tương tự nitrate bạc. Đây là một hình thức đốt tiêu hủy vết viêm loét miệng bằng hóa chất. Cảm giác đau hầu như giảm ngay và vết thương sẽ lành sau 3 – 5 ngày.

Bên cạnh đó, bệnh nhân cần súc miệng bằng nước muối sinh lý 0,9%, không nên súc miệng với nước muối tự pha quá mặn sẽ tăng kích thích đau nhiều hơn.

Trong trường hợp bệnh nhân bị viêm loét miệng thường xuyên, súc miệng bằng dung dịch chlohexidine 0,12% cũng là một biện pháp phòng bệnh có hiệu quả, đồng thời giúp ngăn ngừa bội nhiễm trong quá trình lành vết thương.

Lưu ý: Khi dùng thuốc bôi viêm loét miệng, nên bôi thuốc vào trước các bữa ăn khoảng 1 giờ để vừa có tác dụng kháng viêm mà vừa có tác dụng giảm đau, bôi trước khi đi ngủ buổi tối 1-2 giờ để thuốc phát huy tác dụng tốt nhất.

Ngoài ra, tại Nha khoa Dr.Smile, phương pháp điều trị loét miệng bằng laser 3 nước sóng. Phương pháp này có ưu điểm nhanh chóng, không đau và nhanh phục hồi.